Hàng rào kỹ thuật trong thương mại – TBT

Hiệp định Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (gọi tắt là Hiệp định TBT) ra đời đã nâng cao hiệu quả trong xuất khẩu và áp dụng các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như góp phần to lớn trong việc giải quyết những khó khăn do mâu thuẫn giữa các bộ quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật của các nước khác nhau.

Hiệp định TBT bao gồm các nội dung sau:

Các biện pháp kỹ thuật: Đối tượng của hiệp định TBT là các biện pháp kỹ thuật. Trong phạm vi điều chỉnh của hiệp định, các biện pháp kỹ thuật được chia thành ba nhóm cụ thể sau: Thứ nhất: Các quy định kỹ thuật: Đó là những quy định mang tính bắt buộc đối với các bên tham gia. Điều đó có nghĩa nếu các sản phẩm nhập khẩu không đáp ứng được các quy định kỹ thuật sẽ không được phép bán trên thị trường. Thứ hai: Các tiêu chuẩn kỹ thuật: Ngược lại với các quy định kỹ thuật, các tiêu chuẩn kỹ thuật được đưa ra chủ yếu mang tính khuyến nghị, tức là các sản phẩm nhập khẩu được phép bán trên thị trường ngay cả khi sản phẩm đó không đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật. Thứ ba: Các thủ tục đánh giá sự hợp chuẩn: Các thủ tục đánh giá sự hợp chuẩn là các thủ tục kỹ thuật như: Kiểm tra, thẩm tra, thanh tra và chứng nhận về sự phù hợp của sản phẩm với các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật.

Mục đích hoạt động: Thứ nhất, bảo vệ sức khỏe và an toàn cho người tiêu dùng. Thứ hai, bảo vệ đời sống của động thực vật. Thứ ba, bảo vệ môi trường. Thứ tư, ngăn chặn các thông tin không chính xác. Thứ năm, các mục đích khác liên quan đến các quy định về chất lượng, hài hòa hóa…

Hiệp định TBT có 6 nguyên tắc cơ bản:

Nguyên tắc 1: Không đưa ra những cản trở không cần thiết đến hoạt động thương mại.

Theo đó, trước hết các cản trở khi đưa ra phải phục vụ cho một mục đích chính đáng. Mục đích chính đáng đó có thể là nhằm bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ an ninh quốc gia hay bảo vệ môi trường. Khi đưa ra các cản trở, quốc gia đó cũng phải xem xét đến sự khác biệt về thị hiếu, thu nhập, vị trí địa lý và các nhân tố khác giữa các quốc gia, từ đó lựa chọn sử dụng những cản trở có tác động đến hoạt động thương mại ít nhất.

Nguyên tắc 2: Không phân biệt đối xử.

Giống như các hiệp định khác của WTO, nguyên tắc không phân biệt đối xử của hiệp định TBT được thể hiện qua hai nguyên tắc là nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) và nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT). MFN và NT được áp dụng cho cả các quy định kỹ thuật và các thủ tục đánh giá sự hợp chuẩn.

Nguyên tắc 3: Hài hòa hóa.

Nguyên tắc hài hòa hóa được thể hiện cụ thể trên các mặt sau: Trước hết, hiệp định TBT khuyến khích các nước thành viên sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong xuất khẩu, các tiêu chuẩn quốc gia (toàn bộ hoặc một phần) trừ khi việc sử dụng đó không phù hợp, làm mất tính hiệu quả trong thực hiện một mục đích nào đó. Tiếp theo, hiệp đinh TBT khuyến khích các nước thành viên tham gia vào các Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế như OIE, FAO, WHO, IPPC…. Là những tổ chức đã thiết lập những bộ tiêu chuẩn kỹ thuật trong các lĩnh vực thuộc phạm vi hoạt động của các tổ chức này.

Nguyên tắc 4: Bình đẳng.

WTO khuyến khích các nước thành viên hợp tác để công nhận các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật và thủ tục đánh giá sự hợp chuẩn của nhau.

Nguyên tắc 5: Công nhận lẫn nhau.

Để chứng minh được sản phẩm của mình đáp ứng được các quy định kỹ thuật của nước nhập khẩu, nhà xuất khẩu sẽ phải tiến hành các thủ tục khác nhau đòi hỏi một chi phí nhất định. Những chi phí này sẽ nhân lên nhiều lần khi nhà xuất khẩu phải tiến hành các thủ tục này tại các nước nhập khẩu khác nhau.

Tuy nhiên, khi các nước công nhận các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật và thủ tục đánh giá sự hợp chuẩn của nhau thì nhà xuất khẩu, nhà sản xuất sẽ chỉ phải tiến hành kiểm tra, chứng nhận tiêu chuẩn kỹ thuật ở một nước; kết quả kiểm tra và chứng nhận tại quốc gia đó sẽ được các nước khác công nhận.

Trong thực tế, các nước thành viên WTO đều công nhận kết quả của thủ tục đánh giá sự hợp chuẩn của nước khác ngay cả khi thủ tục đánh giá sự hợp chuẩn của các quốc gia không giống nhau.

Nguyên tắc 6: Minh bạch.

Theo hiệp định TBT, nguyên tắc minh bạch được thể hiện trên các mặt sau: Bản thảo các quy định kỹ thuật của các nước thành viên WTO phải được gửi đến Ban thư ký WTO trước khi gửi bản chính thức 60 ngày. Thời gian 60 ngày là để WTO xin ý kiến các nước thành viên WTO khác. Ngay khi hiệp định TBT có hiệu lực, các nước tham gia phải thông báo cho các nước thành viên khác về các biện pháp thực hiện và quản lý các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật của nước mình, cũng như các thay đổi sau này của các biên pháp đó. Khi các nước thành viên WTO tham gia ký kết các hiệp định song phương và đa phương với các quốc gia khác có lên quan đến các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật và thủ tục đánh giá sự hợp chuẩn; nếu các hiệp định này có ảnh hưởng về thương mại đến các nước thành viên khác thì phải thông qua Ban thư kỹ WTO thông báo về các sản phẩm thuộc phạm vi điều chỉnh của hiệp định, kèm theo 1 bản mô tả vắn tắt hiệp định.

Cuối cùng, đê tăng thêm sự đảm bảo tính minh bạch trong thực thi hiệp định TBT, WTO cũng đã thành lập một cơ quan chuyên trách đó là Ủy Ban TBT. Ủy ban này sẽ cung cấp cho các thành viên WTO các thông tin liên quan đến hoạt động của hiệp định và việc xúc tiến thực hiện các mục đích của hiệp định.

Ngoài các nội dung trên, một phần không thể thiếu trong các nội dung cấu thành của các hiệp định trong khuôn khổ WTO, và đã được cụ thể hóa thành một chương riêng biệt trong nội dung hoạt động của WTO, đó là các quy định về hỗ trợ kỹ thuật đối với các nước đang và chậm phát triển.

Các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật dành cho các nước đang và chậm phát triển thực chất là một phần trong nội dung về đối xử đặc biệt và khác biệt. Tuy nhiên, do tính phức tạp của nội dung này nên ngay cả trong hiệp định TBT, nội dung về hỗ trợ kỹ thuật cũng được tách thành một phần riêng biệt….

         Mai Hùng (Sở Công Thương)

Các tin mới hơn

Các tin cũ hơn