Giải pháp tiêu thụ cây dong riềng và cây nghệ trên địa bàn tỉnh năm 2019

Năm 2018, toàn tỉnh đã trồng được 1.040 ha dong riềng đạt 109% kế hoạch, sản lượng ước đạt khoảng 72.000 tấn củ. Tuy nhiên, người trồng dong riềng đã gặp một số khó khăn trong khâu tiêu thụ do sản lượng củ và tinh bột quá lớn so với năng lực chế biến miến dong làm cho giá bán củ dong riềng thấp (có thời điểm giá củ dong còn 800 – 1.000 đồng/kg); một số diện tích trồng dong riềng đã trồng liên tục nhiều năm, không được đầu tư thâm canh, cải tạo đất dẫn đến bị sâu bệnh hại, năng suất thấp; một số diện tích trồng manh mún, không thuận tiện đường giao thông, vận chuyển củ khó khăn, thiếu hụt lao động trong khi thu hoạch. Lượng tinh bột xuất bán ra ngoài tỉnh quá lớn, chỉ một phần nhỏ lượng tinh bột được các cơ sở tích trữ để sản xuất miến trong năm 2019, nên các cơ sở chế biến dong riềng trên địa bàn tỉnh thường chịu sự điều chỉnh giá thu mua tinh bột từ thị trường ngoài tỉnh, giá bán tinh bột thấp thì kéo theo giá thu mua củ dong giảm theo, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người dân trồng dong riềng của tỉnh. Tại một số địa phương, người dân chưa có sự liên kết chặt chẽ với cơ sở chế biến; sản phẩm miến dong chỉ tiêu thụ mạnh trong những dịp lễ tết nên các cơ sở sản xuất miến trên địa bàn tỉnh hoạt động không hết công suất thiết kế; năng lực tài chính hạn chế nên khó khăn trong việc tích trữ tinh bột, nâng cao năng lực sản xuất, tìm kiếm thị trường tiêu thụ và vốn để thu mua nguyên liệu.

bài dong riềng

Trước thực trạng đó, năm 2019, UBND tỉnh đã chủ động giao giảm kế hoạch diện tích trồng dong riềng còn 820 ha, tuy nhiên đến nay toàn tỉnh mới trồng được 452 ha dong riềng, đạt 55% kế hoạch, với năng suất bình quân khoảng 70 tấn/ha thì tổng sản lượng củ dong riềng mùa vụ năm 2019 trên địa bàn tỉnh là khoảng 31.640 tấn. Trên địa bàn tỉnh hiện có 34 doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX), cơ sở chế biến tinh bột, sản xuất miến dong với năng lực chế biến tinh bột đạt 467 tấn củ dong riềng/ngày và 14,96 tấn miến dong/ngày. Với khoảng 30.000 tấn củ dong mùa vụ năm 2019 đưa vào chế biến thì sản lượng tinh bột ước đạt khoảng 4.500 tấn. Tuy nhiên, tổng sản lượng miến dong sản xuất trên địa bàn tỉnh chỉ đạt khoảng 1.500 tấn (tương đương sử dụng khoảng 2.500 tấn tinh bột). Như vậy, nhu cầu tinh bột dong phục vụ sản xuất trên địa bàn tỉnh năm 2019 vẫn thấp hơn so với lượng tinh bột sản xuất ra, dẫn đến tình trạng có thể phải bán tinh bột nguyên liệu ra ngoài tỉnh.

Hiện nay tỉnh Bắc Kạn đang bước vào mùa vụ trồng nghệ, tổng diện tích trồng nghệ trên địa bàn tỉnh theo kế hoạch là 125ha với năng suất bình quân khoảng 25 tấn/ha thì tổng sản lượng củ nghệ mùa vụ năm 2019 trên địa bàn tỉnh khoảng 2.950 tấn. Toàn tỉnh có 04 doanh nghiệp/HTX chế biến từ nguyên liệu củ nghệ với năng lực chế biến đạt 6.000 tấn củ/năm. Sau khi để lại 300 tấn làm giống, còn khoảng 2.650 tấn củ nghệ mùa vụ năm 2019 sẽ được các cơ sở thu mua để chế biến trên địa bàn tỉnh, do đó không phải xuất bán củ nghệ ra ngoài tỉnh. Sản phẩm chế biến từ củ nghệ trên địa bàn tỉnh đang được tiêu thụ tốt trên thị trường, có tiềm năng xuất khẩu, đặc biệt một số sản phẩm chế biến từ củ nghệ có giá trị gia tăng cao như các sản phẩm curcumin nghệ.

Từ thực trạng trên đòi hỏi cần nghiên cứu, xem xét có giải pháp phát triển một số cây trồng có giá trị kinh tế, có liên kết sản xuất để thay thế diện tích dong riềng không đạt kế hoạch như cây nghệ và một số loại rau địa phương.

Trong khâu sản xuất, UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với chính quyền các huyện, các cơ quan liên quan tập trung chỉ đạo sản xuất đúng hướng sản xuất hàng hóa; tích cực tuyên truyền để người dân thay đổi tư duy sản xuất, áp dụng khoa học công nghệ, khuyến khích liên kết tiêu thụ thông qua ký kết các hợp đồng bao tiêu đảm bảo tính pháp lý. Tham mưu cho UBND tỉnh cơ cấu lại sản xuất dong riềng đảm bảo phù hợp, hiệu quả, trong đó chú trọng hướng dẫn các địa phương trong công tác chỉ đạo, thực hiện chuyển đổi sang cây trồng khác đối với diện tích cây dong riềng không đạt kế hoạch năm 2019. Hỗ trợ các doanh nghiệp/HTX tháo gỡ khó khăn về vốn sản xuất, kinh doanh để sản xuất, chế biến dong riềng, nghệ trên địa bàn tỉnh để kết nối với các ngân hàng thương mại.

UBND các huyện, thành phố tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn người dân tuân thủ các quy trình sản xuất và ký kết, thực hiện nghiêm hợp đồng tiêu thụ. Chỉ đạo chuyển đổi sang cây trồng khác đối với những diện tích dong riềng không đạt kế hoạch trên địa bàn theo hướng trồng các cây có giá trị cao, tăng thu nhập cho người dân (như rau đặc sản, nghệ, gừng…). Chủ động có giải pháp hỗ trợ cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở chế biến dong riềng, nghệ trên địa bàn tháo gỡ khó khăn về hạ tầng, đất đai, vốn; khuyến khích, vận động các cơ sở chế biến dong riềng hoạt động hết công suất sản xuất miến dong để hạn chế xuất bán tinh bột ra ngoài tỉnh. Riêng huyện Na Rì cần khẩn trương đề xuất xây dựng cụm, điểm tập trung chế biến nông sản

Trong khâu lưu thông, Sở Công Thương cần xây dựng kế hoạch quản lý, nâng cao thương hiệu miến dong Bắc Kạn nhằm đảm bảo giữ gìn và phát triển thương hiệu miến dong Bắc Kạn. Các doanh nghiệp, cơ sở chế biến dong riềng và nghệ cần nghiên cứu đầu tư máy móc, công nghệ nhằm nâng cao giá trị các sản phẩm dong riềng và nghệ; không bán tinh bột dong riềng với giá trị thấp. Ký kết, tuân thủ hợp đồng tiêu thụ với người dân trên cơ sở đảm bảo hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp, cơ sở chế biến và người trồng theo chuỗi giá trị của sản phẩm cuối cùng để đảm bảo vùng nguyên liệu ổn định phục vụ sản xuất. Để hoạt động trồng, chế biến nghệ trên địa bàn tỉnh được ổn định, bền vững thì cần sự liên kết chặt chẽ giữa người dân trồng nghệ và cơ sở chế biến, đảm bảo hài hòa lợi ích của người nông dân và cơ sở chế biến. Đồng thời các doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất hoàn thiện mẫu mã, bao bì, nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu của các thị trường lớn; tích cực kết nối, kêu gọi nhà đầu tư để nâng cao năng lực chế biến sản phẩm dong riềng có giá trị cao trên địa bàn tỉnh.

Phạm Thị Dịu (Sở Công Thương)

Các tin mới hơn

Các tin cũ hơn