CÔNG TÁC QUẢN LÝ, PHÁT TRIỂN NGÀNH NĂNG LƯỢNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN

Bắc Kạn là tỉnh miền núi nằm ở trung tâm nội địa vùng Đông Bắc Bắc Bộ có diện tích tự nhiên 485.996 ha chiếm 1,47% diện tích cả nước; dân số toàn tỉnh là 311.000 người, Bắc Kạn có 8 đơn vị hành chính, trong đó có 1 thành phố và 7 huyện với 122 xã, phường, thị trấn. Là tỉnh được đánh giá có tiềm năng về tài nguyên khoáng sản, đến nay phát hiện 273 mỏ và điểm mỏ khoáng sản với 24 loại khoáng sản khác nhau, trong đó khoáng sản có giá trị cao như: Chì kẽm, vàng, sắt,… Hơn nữa, Bắc Kạn là đầu nguồn của 5 con sông lớn, với tổng chiều dài là 313 km, lưu lượng lớn 105,3m3/s và độ dốc dòng chảy lớn. Đặc biệt Bắc Kạn có 160 di tích lịch sử cách mạng, trong đó có 8 di tích được xếp hạng cấp quốc gia; có danh thắng hồ Ba Bể là một trong 20 hồ nước ngọt lớn nhất thế giới và nằm trong vườn quốc gia Ba Bể, nơi đây được công nhận là khu du lịch quốc gia Việt Nam và được UNESCO công nhận là Khu Ramsar (vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế) thứ 3 của Việt Nam. Với vị trí địa lý và điều kiện tư nhiên như vậy là điều kiện thuận lợi để Bắc Kạn phát triển nông, lâm nghiệp, công nghiệp và dịch vụ du lịch.

Trong những năm qua, được sự quan tâm của Bộ Công Thương, sự phối hợp chặt chẽ của các Sở, ngành liên quan, địa phương và Công ty Điện lực Bắc Kạn công tác quản lý, phát triển ngành năng lượng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đã đạt được một số kết quả nhất định, đó là:

Tình hình cung ứng và sử dụng điện. Nguồn năng lượng phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Bắc Kạn chủ yếu được cấp từ điện lưới quốc gia qua 02 trạm biến áp 110kV với công suất lắp đặt 66 MVA và nguồn thủy điện vừa và nhỏ với công suất lắp máy 10 MVA. Do là tỉnh miền núi nên hệ thống phân phối điện của tỉnh được sử dụng lưới trung áp 35kV và 10(22)V, lưới phân phối 35kV cấp điện cho 121/121 xã thuộc các huyện vùng sâu, vùng xa trong tỉnh, chiếm tỷ lệ 96,4%; lưới 10(22)kV cấp điện cho 8 xã, phường thuộc thành phố Bắc Kạn, chiếm tỷ lệ 3,6%. Việc sử dung lưới trung áp và 2 cấp điện áp như vậy là phù hợp với điều kiện địa hình của tỉnh.

Năm 2015 điện thương phẩm toàn tỉnh đạt 147,4 triệu kWh, trong đó tiêu dùng dân cư chiếm 57,7%, điện cho công nghiệp xây dựng chiếm 31,4%, còn lại là thương mại dịch vụ và các hoạt động khác; do đặc thù của tỉnh miền núi vùng cao, nên dùng điện cho các hoạt động tưới tiêu rất ít, do đó nhu cầu điện năng cho thành phần nông lâm, thủy sản chiếm tỷ lệ nhỏ dưới 0,2%. Tốc độ tăng trưởng điện thương phẩm toàn tỉnh giai đoạn 2011-2015 đạt 11,4%/năm, trong đó công nghiệp – xây dựng đạt gần 11%/năm; nông lâm thủy sản đạt tăng trưởng gần 20%/năm; thương mại -dịch vụ tăng trưởng gần 25%/năm; quản lý & tiêu dùng dân cư đạt trên 11%/năm và các hoạt động khác đạt gần 8%/năm. Như vậy về nguồn cung ứng điện cơ bản đáp ứng đủ yêu cầu của phụ tải, song việc sử dụng điện còn hạn chế;

Công tác quản lý vận hành lưới điện. Lưới điện trên địa bàn tỉnh thuộc tài sản ngành điện quản lý chiếm 97,1%, một phần nhỏ do khách hàng quản lý chiếm 2,9%. Lưới điện thuộc ngành điện quản lý nên rất thuận lợi cho công tác vận hành, cung cấp điện ổn định, liên tục. Tuy nhiên, do vận hành đường dây trung áp dài, địa hình đồi núi nên sự cố lưới điện trung áp nhìn chung có chiều hướng tăng so với những năm trước, theo số liệu thống kê từ năm 2012 đến nay có khoảng 247 vụ sự cố đường dây trung áp và 05 vụ sự cố về trạm biến áp.

Công tác phát triển lưới điện. Năm 2010 trên địa bàn toàn tỉnh có 1.258 km đường dây trung áp, 1.402,5 km dường dây hạ áp, 709 trạm biến áp phân phối 35/0,4kV và 10(22)/0,4kV với tổng dung lượng là 92.048 kVA; sản lượng điện thương phẩm là 85,9 triệu kW/h, thì đến năm 2015 trên địa bàn toàn tỉnh đã có 1.464 km đường dây trung áp (tăng 11,6% so với năm 2010), trong đó có 1.397,58 km đường dây nổi và 22,67 km cấp ngầm; có 1.689,1 km dường dây hạ áp (tăng 12% so với năm 2010), trong đó có 1.457,40 km đường dây cáp bọc và 32,03 km đường dây trần; có 839 trạm biến áp phân phối với tổng dung lượng là 118.676 kVA (tăng 12% so với năm 2010).

Công tác quản lý điện nông thôn. Lưới điện nông thôn trên địa bàn tỉnh được đầu tư từ nhiều năm trước và bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, nhưng chủ yếu là nguồn vốn 135, nguồn vốn WB và nguồn vốn của ngành điện. Cơ bản lưới điện nông thôn được lắp đặt đáp ứng theo yêu cầu tiêu chuẩn kỹ thuật, 100% dây bọc, cột bê tông cốt thép theo quy chuẩn nên đảm bảo an toàn và cung cấp điện phục vụ cho sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt. Hiện nay lưới điện nông thôn tỉnh Bắc Kạn đã được bàn giao cho Công ty Điện lực Bắc Kạn quản lý, sau khi tiếp nhận Công ty đã đầu tư cải tạo, nâng cấp một số đường dây trung áp và hạ áp; bổ sung thêm một số trạm biến áp và thay thế 100% công tơ đảm bảo tiêu chuẩn đo lường. Đến nay Công ty Điện lực Bắc Kạn đã thực hiện quản lý và bán điện trực tiếp đến toàn bộ khách hàng sử dụng điện nông thôn.

Hiện toàn tỉnh có 100% số xã có điện lưới quốc gia, có hơn 1.114/1.261 thôn, bản có điện đạt 88,34%; còn hơn 145 thôn, bản chưa có điện, số thôn, bản này hiện đang được Tập đoàn Điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư xây dựng, Công ty Điện lực Bắc Kạn làm chủ dự án. Tính đến 31/12/2016 số hộ sử dụng điện lưới quốc gia trên toàn tỉnh đạt 96,02%.

Bên cạnh những kết quả đạt được công tác quản lý, phát triển năng lương trên địa bàn tỉnh còn gặp một số khó khăn nhất định, đó là:

Trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn có lưới điện 220 kV từ tỉnh Tuyên Quang đi tỉnh Cao Bằng và tỉnh Thái Nguyên song chưa hạ và cấp điện cho tỉnh Bắc Kạn; số lượng trạm 110kV còn ít (02 trạm) nên có nguy cơ cấp điện không ổn đinh.  Mặt khác các đường dây trung áp có chiều dài đường trục lớn, được thiết kế, lắp đặt chủ yếu theo hình tia đi qua nhiều đồi núi, mặc dù chưa có đường dây nào bị quá tải nhưng do có nhiều chủng loại dây khác nhau và được phát triển, xây dựng, lắp đặt trong nhiều giai đoạn nên độ tin cậy cung cấp điện chưa cao, khả năng dự phòng cấp điện chưa tốt, thường hay sự cố khi thời tiết bất thường và khó khắn trong công tác quản lý, vận hành. Nhất là khi sự cố, thời gian xử lý thường kéo dài. Tốc độ tăng trưởng điện thương phẩm đạt thấp, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh, đặc biệt là điện sử dụng trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng (11%/năm). Nguyên nhân là do một số dự án đầu tư xây dựng thuộc lĩnh vực công nghiệp triển khai chậm tiến độ, một số cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động cầm chừng do sản phẩm đầu ra không tiêu thụ được.

Lưới điện nông thôn được thiết kế, lắp đặt đáp ứng theo tiêu chuẩn kỹ thuật song, còn một số trạm biến áp có bán kính cấp điện cho phụ tải lớn hơn quy định, tiết diện dây dẫn hạ thế chưa đồng bộ nên phần nào ảnh hưởng đến chất lượng điện năng phục vụ sản xuất và sinh hoạt.

Để công tác quản lý, phát triển năng lượng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn trong những năm tới thu được kết quả cao hơn nữa tương sứng với tiềm năng của tỉnh thì cần phải thực hiện tốt một số giải pháp chính như sau:

Một là, Tiếp tục nhận được sự quan tâm hơn nữa của Bộ Công Thương, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và sự phối hợp chặt chẽ của các Sở, ngành liên quan, địa phương, Công ty Điện lực Bắc Kạn trong công tác quản lý, phát triển ngành năng lượng, trước mắt phối hợp chặt chẽ với Viện nghiên cứu chiến lược chính sách công thương thực hiện hoàn thành quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2016-2025 có xét đến 2035.

Hai là, Phối hợp với các Sở, ngành liên quan tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh; đẩy nhanh tiến độ thực hiện đầu tư, xây dựng các dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp để sớm đưa vào khai thác, vận hành nhằm nâng sản lượng tiêu thụ điện tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh.

Ba là, Tăng cường công tác quản lý, vận hành; tiếp tục đầu tư, cải tạo, nâng cấp các đường dây trung áp nhằm giảm thiểu chiều dài đường trục; tăng độ tin cậy cung cấp điện.

Bốn là, Tiếp tục bổ sung thêm một số trạm biến áp 35/0,4kV và 10(22)/0,4kV chống quá tải cho các trạm biến áp hiện có; cải tạo, nâng cấp một số tuyến đường dây hạ áp nhằm giảm bán kính cấp điện, nâng chất lượng điện áp phục vụ nhu cầu sản xuất, sinh hoạt của phụ tải; phối hợp với Công ty Điện lực Bắc Kạn đẩy nhanh tiến độ cấp điện cho các thôn, bản chưa có điện để nâng số hộ sử dụng điện lưới quốc gia trên toàn tỉnh đạt tỷ lệ 98% đến năm 2020 theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn (lần thứ XI) nhiệm kỳ 2015-2020.

Ngọc Văn Thái

Phòng Quản lý năng lượng

Các tin mới hơn

Các tin cũ hơn