Bắc Kạn – Tiềm năng và triển vọng thu hút đầu tư

LỜI MỞ ĐẦU

Bắc Kạn là tỉnh miền núi Bắc Bộ, phía đông giáp tỉnh Lạng Sơn, phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang, phía nam giáp tỉnh Thái Nguyên, phía bắc giáp tỉnh Cao Bằng; thị xã tỉnh lỵ cách thủ đô Hà Nội 170 Km theo đường quốc lộ 3. Sau hơn 10 năm tái lập, tỉnh Bắc Kạn đã đạt được những kết quả khá toàn diện, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm giai đoạn 2002-2007 đạt 11,48%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch dần theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng công nghiệp – xây dựng, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng nông – lâm nghiệp, GDP bình quân đầu người tăng, giảm tỷ lệ hộ đói nghèo.

Nằm gần vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, Bắc Kạn có hệ thống cơ sở hạ tầng khá tốt, môi trường xã hội lành mạnh, có nhiều lợi thế phát triển về du lịch, công nghiệp, nông lâm nghiệp gắn với công nghiệp chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng. Cùng với các địa phương khác trong cả nước, Bắc Kạn đang bước vào thời kỳ mới của giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa. Phát huy những thành tựu bước đầu đã đạt được, đúc kết những bài học kinh nghiệm trong chặng đường 10 năm qua, cùng với sự quan tâm ưu đãi đầu tư của tỉnh và nhiều tiềm năng phát triển, Bắc Kạn sẽ là môi trường thuận lợi thu hút sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư có những thông tin cần thiết về môi trường đầu tư tại tỉnh Bắc Kạn, UBND tỉnh giới thiệu đến các nhà đầu tư về Bắc Kạn – Tiềm năng triển vọng hợp tác và đầu tư, chúng tôi hy vọng đây sẽ là tài liệu bổ ích đối với các nhà đầu tư và các doanh nghiệp. Với quyết tâm xây dựng tỉnh Bắc Kạn trở thành một địa phương phát triển và có chính sách ưu đãi về thu hút đầu tư, Bắc Kạn sẽ là một địa chỉ tin cậy và đầy triển vọng của các nhà đầu tư.

Hoàng Ngọc Đường – Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn

GIỚI THIỆU BẮC KẠN

1. Vị trí địa lý

Bắc Kạn nằm ở trung tâm nội địa vùng Đông Bắc Bắc Bộ Việt Nam; phía Bắc giáp các huyện Bảo Lạc, Nguyên Bình, Thạch An tỉnh Cao Bằng; phía Đông giáp các huyện Tràng Định, Bình Gia tỉnh Lạng Sơn; phía Nam giáp các huyện Võ Nhai, Phú Lương, Định Hóa tỉnh Thái Nguyên; phía Tây giáp các huyện Na Hang, Chiêm Hóa, Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang. Như vậy, Bắc Kạn hoàn toàn nằm trong vành đai nhiệt đới khu vực gió mùa Đông Nam Á, gần chí tuyến bắc hơn xích đạo. Ở vị trí này, Bắc Kạn có sự phân hóa khí hậu theo mùa rõ rệt (về nhiệt độ, lượng mưa, độ dài ngày và đêm giữa hai mùa). Lãnh thổ Bắc Kạn lại nằm kẹp giữa hai hệ thống núi cánh cung miền Đông Bắc nên chịu ảnh hưởng mạnh của khí hậu lục địa Châu Á, nhất là thời tiết lạnh về mùa đông, đồng thời hạn chế ảnh hưởng mưa bão hàng năm về mùa hạ.

2. Diện tích đất tự nhiên

Diện tích đất tự nhiên của Bắc Kạn là 486.842 ha, trong đó đất nông nghiệp (bao gồm cả đất lâm nghiệp) là 376.356 ha chiếm 77,3%, , đất phi nông nghiệp là 19,911 ha chiếm 4,1% và đất chưa sử dụng là 90.575 ha chiếm 18,6% nhìn chung đất đai trong tỉnh Bắc Kạn tương đối màu mỡ, nhiều nơi tầng đất dày, đất đồi núi có lượng mùn cao, thích hợp cho sản xuất nông, lâm nghiệp, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả và phục hồi rừng.

3. Dân số, lao động :

Dân số: Có trên 300.000 người, với 7 dân tộc anh em gồm Tày, Nùng, Dao, Kinh, Mông, Hoa, Sán Chay, trong đó dân tộc thiểu số chiếm trªn 80%; mật độ dân số trung bình 62 người/km2. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2007 là 1,16%

Lao động: Nguồn lao động của tỉnh Bắc Kạn khá dồi dào, hiện có khoảng gần 200.000 lao động. Hiện tại số người lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 164.025 người. Nguồn nhân lực của tỉnh Bắc Kạn khá đông có thể cung ứng đủ nhu cầu về lao động cho các Doanh nghiệp có dự án đầu tư tại tỉnh Bắc Kạn với giá thuê nhân công rẻ hơn các nơi khác. Tuy nhiên nếu cần lao động lành nghề và lao động có trình độ kỹ thuật cao thì cần tiếp tục đào tạo nâng cao…

4. Các đơn vị hành chính:

Bắc Kạn có 8 đơn vị hành chính, trong đó có 01 thị xã và 7 huyện với 122 xã, phường, thị trấn. Đến năm 2020 Bắc Kạn sẽ có 01 thành phố và 01 thị xã

5. Tài nguyên rừng:

Bắc Kạn có 420.990,5 ha đất lâm nghiệp, trong đó đất có rừng là 263.503,9 ha, rừng tự nhiên 224.151,4 ha, rừng trồng là 39.352,5 ha và đất chưa có rừng là 157.484,6 ha. Bắc Kạn có vị trí địa lý ở vùng giao lưu giữa 2 khu hệ động, thực vật của vùng núi Tây Bắc và Đông Bắc. Tuy rừng núi không cao nhưng rất đa dạng về địa hình, địa chất và dạng sinh cảnh. Rừng Bắc Kạn có hệ động, thực vật phong phú với nhiều nguồn gen quý hiếm. Tóm lại, rừng Bắc Kạn là một tài nguyên quý, phong phú và đa dạng, ngoài khả năng cung cấp gỗ và các loại lâm sản, đây còn là một trong những trung tâm bảo tồn gen động, thực vật quý hiếm của các tỉnh vùng Đông Bắc Việt Nam.

6. Tài nguyên Du lịch

Bắc Kạn có tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch, trong đó nổi bật là Hồ Ba Bể nằm trong Vườn Quốc gia Ba Bể, đã được ASEAN công nhận là Di sản thiên nhiên ASEAN và tỉnh Bắc Kạn đã lập Hồ sơ trình Tổ chức UNESCO công nhận Vườn Quốc gia Ba Bể là Di sản thiên nhiên thế giới. Tại đây có 21 tuyến điểm du lịch hấp dẫn, cùng với quần thể động, thực vật phong phú, đa dạng như trên 417 loài thân gỗ, hàng trăm loài phong lan, dược liệu quý hiếm, 319 loài động vật, trong đó có loài được ghi vào sách đỏ Việt Nam như voọc mũi hếch, voọc má trăng, kết hợp với nhiều dạng địa hình castơ, hang động, thác nước tạo nên một khu du lịch hấp dẫn, đặc biệt là du lịch sinh thái, một xu thế du lịch đang ngày càng phát triển mạnh ở trong nước và trên thế giới.

Bên cạnh đó, Bắc Kạn còn có nhiều di tích lịch sử được hình thành qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ với các địa danh được xếp hạng cấp Quốc gia như Khu ATK huyện Chợ Đồn, di tích lịch sử Nà Tu, chiến thắng Phủ Thông, cùng với nhiều loại hình văn hoá dân gian, lễ hội, sản phẩm lưu niệm truyền thống của các dân tộc thiểu số đã hình thành kho tàng văn hóa phi vật thể phong phú, hẫp dẫn. Đồng thời kết hợp với các khu du lịch lịch sử của các tỉnh lân cận như Khu ATK Định Hoá (Thái Nguyên), khu di tích Tân Trào (Tuyên Quang) rất thuận lợi cho việc hình thành các tour, tuyến du lịch lịch sử, du lịch văn hoá…

7. Tài nguyên khoáng sản

Trên địa bàn tỉnh có 165 mỏ và điểm quặng, các loại khoáng sản có trữ lượng lớn là: Chì kẽm 70 mỏ và điểm quặng, trữ lượng khoảng 4 triệu tấn; sắt có 13 mỏ và điểm mỏ, trữ lượng khoảng 22 triệu tấn; vàng có 17 mỏ và điểm quặng, trữ lượng khoảng 39 tấn; đá vôi xi măng 150 triệu m3; đá trắng, thạch anh khoảng 460 triệu m3; sét xi măng trên 10 triệu m3, ngoài ra còn có antimon, titan, Kaolin, Silic….

Tài nguyên khoáng sản Bắc Kạn phong phú, đa dạng và giầu tiềm năng, tỉnh Bắc Kạn đã có quy hoạch khai thác và sử dụng khoáng sản phù hợp đến năm 2020.

8. Cơ sở hạ tầng

* Về giao thông và kết cấu hạ tầng: Hạ tầng giao thông từ tỉnh đến các huyện, xã đã có đường ô tô, tuy Bắc Kạn là tỉnh nằm sâu trong lục địa, song có Quốc lộ 3 nối từ Hà Nội đến cửa khẩu Tà Lùng tỉnh Cao Bằng hiện đã được cải tạo nâng cấp và khá thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá. Khoảng cách từ tỉnh Bắc Kạn đến cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị và cửa khẩu Tân Thanh – Lạng Sơn khoảng 200 km, đường bộ từ thị xã Bắc Kạn đến Sân bay Nội Bài 150 km và Cảng Hải phòng chỉ trên 200 km. Như vậy có thể thấy việc giao lưu thông thương hàng hoá từ Bắc Kạn đến các cửa khẩu của Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng và Hà Nội là khá thuận tiện.

- Hệ thống điện lưới quốc gia và hệ thống thông tin liên lạc đã được đầu tư đến tất cả các xã, các trung tâm thị trấn, thị xã đã phủ sóng điện thoại di động.

* Hệ thống điện – Điện lực

Việc cung cấp điện sinh hoạt và điện sản xuất cho tỉnh Bắc Kạn có 01 đường dây 110KV Thái Nguyên – Bắc Kạn – Cao Bằng và 01 đường dây dự phòng 35KV từ Tuyên Quang sang huyện Chợ Đồn về thị xã Bắc Kạn.
Có thể nói hệ thống lưới điện phát triển tương đối rộng khắp, nguồn điện và hệ thống lưới điện về cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Sản lượng điện thương phẩm liên tục tăng qua các năm. Các xã, phường được sử dụng điện lưới quốc gia đạt 83,13%, mục tiêu giảm tỷ lệ tổn thất điện năng được thực hiện rất tốt.

* Thông tin – Viễn Thông

Hiện nay kết cấu hạ tầng ngành bưu chính viễn thông trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đã tương đối phát triển, đảm bảo thông tin liên lạc trong nước và quốc tế thông suốt, bao gồm các thành phần sau:

- Dịch vụ viễn thông: Bao gồm dịch vụ viễn thông di động và cố định. Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn có 03 nhà cung cấp dịch vụ điện thoại cố định là VNPT, Viettel và EVN. Số tổng đài điện thoại trên địa bàn tỉnh hiện nay là 17 tổng đài. Tổng số thuê bao điện thoại cố định đạt 30.580 chiếc. Về dịch vụ điện thoại di động hiện nay có 04 nhà cung cấp là VNPT, EVN, Viettel và HT mobile. Dịch vụ viễn thông di động đã phủ sóng đến 8/8 huyện, thị xã trong tỉnh.(Số thuê bao điện thoại trên 100 dân đạt 38máy/100 dân trong đó 10 máy có định và 28 máy di động).

- Dịch vụ Internet: Hiện nay dịch vụ Internet trên địa bàn tỉnh tương đối phát triển tuy số lượng thuê bao còn khá khiêm tốn (khoảng 800 thuê bao) song chất lượng và tốc độ đường truyền ADSL đạt tiêu chuẩn. Dịch vụ Internet phát triển mạnh ở thị xã Bắc Kạn và đã có mặt ở 8/8 huyện, thị xã trong tỉnh.

- Điểm bưu điện văn hóa xã đã có tại 122/122 xã, phường, thị trấn trong tỉnh đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt và thư báo đến đúng thời gian yêu cầu phục vụ nhu cầu thông tin kịp thời của nhân dân các dân tộc trong toàn tỉnh.

- Dịch vụ bưu chính: Bưu cục trung tâm tỉnh tại thị xã Bắc Kạn đạt tiêu chuẩn bưu cục cấp I, số bưu cục trung tâm huyện là 7 bưu cục, số bưu cục khu vực là 17, 122/122 xã đã có điểm bưu điện văn hóa xã. Bán kính phục vụ trung bình đạt 5,5 km/bưu cục.

Nằm trong mạng lưới viễn thông quốc gia và quốc tế, mạng viễn thông Bắc Kạn đang từng bước phát triển rộng khắp và hiện đại. Bưu điện tỉnh Bắc Kạn đã có mạng chuyển mạch gồm trên 13 tổng đài điện tử kỹ thuật số, 02 tuyến dẫn bằng cáp quang, 100% các tuyến còn lại đều sử dụng thiết bị viba. Mạng ngoại vi được phát triển nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu sử dụng máy điện thoại ngày càng tăng.

* Ngân hàng – Bảo hiểm

Dịch vụ Ngân hàng và Bảo hiểm trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đáp ứng được nhu cầu cho thị trường tài chính với nhiều loại hình dịch vụ mới. Trên địa bàn tỉnh đã có các chi nhánh cấp huyện của các ngân hàng như: Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Chính sách. Dịch vụ Bảo hiểm cũng phong phú, đa dạng phục vụ các nhu cầu bảo hiểm của cá nhân và tổ chức sản xuất kinh doanh. Trên địa bàn tỉnh đã có Bảo hiểm Bảo Việt đặt Chi nhánh tại 8/8 huyện, thị xã với đầy đủ các dịch vụ bảo hiểm. Hiện nay đã có chi nhánh bảo hiểm nhân thọ Prudential tại Bắc Kạn.

9. Hạ tầng khu Công nghiệp

Tỉnh đã có mặt bằng khu công nghiệp và 3 cụm công nghiệp gồm Cụm công nghiệp thị xã Bắc Kạn; Cụm công nghiệp Bạch Thông; Cụm công nghiệp Chợ Đồn.

Khu công nghiệp Thanh Bình tại xã Thanh Bình, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn cách thị xã Bắc Kạn khoảng 30 km gần trục quốc lộ 3 Bắc Kạn – Hà Nội. Tổng diện tích quy hoạch là 153,8 ha, trong đó diện tích sử dụng giai đoạn 1 là 73,5 ha.

KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI TỈNH BẮC KẠN THỜI KỲ 2006 – 2010 VÀ ĐỊNH HƯỚNG 2015 – 2020

I. MỤC TIÊU 2006 – 2010

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX đã đề ra, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Kạn quyết tâm thực hiện để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2010 như sau: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân giai đoạn 2006 – 2010 đạt 20%/năm, trong đó: Nông lâm nghiệp, thuỷ sản tăng 6,5%/năm, Công nghiệp, XDCB tăng 33%/năm, Dịch vụ tăng 24%/năm; Cơ cấu kinh tế: Nông lâm nghiệp, thuỷ sản 23%, Công nghiệp, XDCB 34%, Dịch vụ 43%; GDP bình quân đạt trên 9 triệu đồng/người/năm; Tỉ lệ huy động GDP vào ngân sách bình quân đạt 10%/năm; Kim ngạch xuất khẩu đạt 16 triệu USD; Xoá căn bản hộ đói, giảm hộ nghèo xuống dưới 20%.

II. DỰ KIẾN 2015 – 2020

- Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 15- 16%
– Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp bình quân tăng 5,8%/năm
– Giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng bình quân tăng 20,68%/năm
– Giá trị sản xuất dịch vụ bình quân tăng 14,8%/năm
– Thu ngân sách năm 2020 đạt trên 870 tỷ đồng
– Kim ngạch xuất khẩu năm 2020 đạt trên 36 triệu USD

III. Định hướng phát triển và hướng ưu tiên đột phá

Để đạt được tốc độ tăng trưởng đã đề ra, tỉnh Bắc Kạn đã lựa chọn các khâu đột phá lấy phát triển lâm nghiệp và công nghiệp chế biến lâm sản kết hợp với công nghiệp chế biến khoáng sản làm ngành kinh tế mũi nhọn. Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và xây dựng tiềm lực khoa học công nghệ của tỉnh đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Tập trung đầu tư phát triển đồng bộ và hiện đại hệ thống kết cấu hạ tầng, tháo gỡ mọi khó khăn, rào cản, tạo môi trường đầu tư thuận lợi, thu hút các doanh nghiệp lớn đẩy nhanh phát triển về công nghiệp, nông lâm nghiệp gắn với công nghiệp chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm sản và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp.

Phát triển du lịch toàn diện với các sản phẩm tiêu biểu là du lịch văn hoá, du lịch sinh thái, vui chơi giải trí kết hợp với du lịch tham quan di tích lịch sử, lễ hội truyền thống. Đầu tư xây dựng các sản phẩm du lịch có chất lu?ng cao, có quy mô lớn.Tận dụng lợi thế Hồ Ba Bể để có chiến lược lâu dài về phát triển du lịch của tỉnh và khu vực gắn với việc phát triển mạnh kinh tế từ rừng và chăn nuôi đại gia súc.

ĐỊNH HƯỚNG THU HÚT ĐẦU TƯ CÁC LĨNH VỰC ƯU TỈÊN

1. Sản xuất công nghiệp:

Công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản: sản xuất vật liệu xây dựng ( xi măng, sản phẩm từ đá trắng, gạch ngói, đá các loại…) Kẽm, chì, sắt…
Đầu tư hạ tầng khu công nghiệp Thanh Bình, các cụm công nghiệp: Thị xã Bắc Kạn, Chợ Đồn, hạ tầng đường giao thông.

2. Dịch vụ – du lịch.

Khách sạn, siêu thị, trung tâm thương mại, khu thể thao vui chơi giải trí.
Du lịch sinh thái Hồ Ba Bể, du lịch lịch sử ATK, Chiến thắng Phủ Thông, di tích Nà Tu, du lịch văn hoá…

3. Sản xuất nông, lâm nghiệp.

Nuôi trồng và chế biến các sản phẩm, nông lâm nghiệp ( chè chất lượng cao, trồng rừng nguyên liệu; chăn nuôi gia súc , gia cầm, nuôi cá hồi…).

Các tin mới hơn

Các tin cũ hơn